chuyên đề

You are not so smart - Bạn không thật thông minh

16/12/2017    hoangthuphuong   Tóm lược sách yêu thích
[Bạn nghĩ là, bạn là một người có lý trí, có logic, bạn nhìn thế giới như vốn có của nó.Thực ra là, bạn cũng bị đánh lừa như tất cả mọi người khác, nhưng không sao, điều đó giúp cho bạn bình thường.]

Ba chủ đề chính trong cuốn sách gồm:
(1) cognitive biases – những thiên lệch tâm lý, là những khuôn mẫu suy nghĩ và hành vi có thể xác định được mà dẫn ta đến những kết luận sai lầm; 
(2) heuristics – những phương pháp tiếp cận bằng cảm tính, kinh nghiệm ta dùng để giải quyết những vấn đề thường gặp, để đẩy nhanh tốc độ xử lý thông tin; 
(3) logical fallacies – những nguỵ biện tư duy, là lúc ta bỏ qua hoặc bị thay đổi nhưng không hề nhận ra.



#1. Priming – Hiệu ứng mồi

  • Bạn nghĩ là, bạn biết khi nào thì bạn bị ảnh hưởng và điều đó tác động đến hành vi của bạn ra sao.
  • Thực ra là, bạn không hề nhận biết được những “mồi nhử” liên tục nhận được từ những ý tưởng đã hình thành trong vô thức.
Hiệu ứng mồi là khi một sự kích thích trong quá khứ ảnh hưởng đến cách bạn hành động và suy nghĩ hoặc cách bạn tiếp nhận những kích thích sau này. Mọi nhận thức, bất kể bạn có ý thức được nó hay không, đều bắt đầu cho một chuỗi những ý tưởng liên quan với nhau trong não bộ.

#2. Confirmation Bias – Thiên lệch xác nhận

  • Bạn nghĩ là, ý kiến của bạn là kết quả của những suy nghĩ, phân tích lý trí và khách quan.
  • Thực ra là, ý kiến của bạn là kết quả của việc bạn chú ý vào những thông tin xác nhận cho những gì bạn tin tưởng, trong khi bỏ qua những thông tin thách thức những nhận định đã có của bạn.
Kể cả trong trí nhớ bạn cũng gặp phải thiên lệch xác nhận, bạn hồi tưởng những thông tin hỗ trợ ngay cả cho những niềm tin mới hình thành, trong khi bỏ qua các ký ức phản lại chúng.Trong khoa học, bạn đến gần hơn với sự thật bằng cách tìm bằng chứng cho những điều trái ngược. Trong cuộc sống cũng vậy.

#3. Highsight Bias – Thiên lệch nhận thức muộn

  • Bạn nghĩ là, sau khi bạn học được điều gì đó mới, bạn nhớ lại rằng bạn đã từng nghĩ sai thế nào.
  • Thực ra là, bạn thường nhìn lại những điều bạn vừa học được và cho rằng bạn đã luôn biết và đã luôn tinnhững điều đó.
  • Bạn có xu hướng chỉnh sửa lại ký ức của mình để bạn không trông giống như một kẻ ngu dốt hay thất bại khi mọi thứ xảy ra không như bạn dự đoán.
  • Bạn luôn nhìn lại con người mà bạn đã từng là, luôn tái cấu trúc lại câu chuyện của bạn để phù hợp với bản thân hiện tại hơn, điều này giữ cho đầu óc bạn đơn giản.
  • Bạn suy nghĩ và quyết định dựa trên những gì bạn biết hiện tại, không phải những gì bạn đã từng biết.
Biết được điều này giúp bạn có thể nghi ngờ chính đáng với những chính trị gia hoặc doanh nhân khi họ nói về các quyết định trong quá khứ của họ, hãy nhớ rằng người khác thật sự nghĩ rằng họ chưa bao giờ sai, và bạn cũng như họ.Thiên lệch nhận thức muộn rất gần với availability heuristic – Định kiến có sẵn:  

#4. The Availability Heuristic – Định kiến có sẵn
  • Bạn nghĩ là, bạn hiểu cách thế giới vận hành thế nào dựa trên những thống kê hoặc sự thật chọn lọc từ rất nhiều ví dụ.
  • Thực ra là, bạn rất dễ tin rằng một điều gì đó là bình thường nếu bạn có thể tìm chỉ một ví dụ cho nó và bạn khó tin vào điều gì nếu bạn chưa từng thấy hoặc nghe về nó.
  • Bạn dùng những thông tin có sẵn để suy nghĩ và ra quyết định.
  • Bạn có xu hướng tin vào những câu chuyện và những tin tức gây cảm xúc cá nhân là đại diện khái quát cho những gì đang xảy ra, trong khi thực sự không phải như vậy.
Ví dụ, nếu bạn đọc nhiều tin tức về cá mập trên báo, và bạn nghĩ “trời ơi, chúng ta đang mất kiếm soát với tình trạng cá mập”, trong khi điều bạn nên nghĩ là “người đưa tin có vẻ thích tin về cá mập”.
  • Bạn có xu hướng phản ứng nhanh hơn và mạnh mẽ hơn với những thông tin mà bạn thấy quen thuộc. Và khi một thông tin nào đó càng có sẵn, bạn càng xử lý nhanh hơn, khi bạn càng xử lý thông tin nhanh hơn, bạn càng tin vào nó hơn và ít có khả năng xem xét các thông tin khác.
Ví dụ, nếu bạn thấy một trường hợp cá biệt ai đó chết vì tiêm vaccine, khả năng rất cao là bạn sẽ không tiêm thuốc, cho dù theo thống kê thì việc tiêm thuốc vẫn an toàn.

#5. The Texas Sharpshooter Fallacy – tạm dịch: sự nguỵ biện của tay thiện xạ Texas
  • Bạn nghĩ là, bạn có tính đến sự ngẫu nhiên khi đánh giá nguyên nhân và kết quả.
  • Thực ra là, bạn có xu hướng bỏ qua sự ngẫu nhiên khi kết quả có vẻ là có ý nghĩa hoặc khi bạn muốn sự việc ngẫu nhiên có mang một ý nghĩa nào đó.
Cũng giống như tay súng Texas vẽ một cái mắt bò quanh những điểm tập hợp với nhau trên tấm bia anh ta đã bắn, như thể anh ta là một tay thiện xạ.Nếu như thiên lệch xác nhận (confirmation bias) và thiên lệch nhận thức muộn (hindsight bias) có một đứa con thì đó chính là sự nguỵ biện này.Một khái niệm tương tự, được gọi là apophenia – một hiện tượng tâm lý thích liên tưởng, đặt ý nghĩa và liên kết thành câu chuyện cho nhiều sự việc hoàn toàn ngẫu nhiên.

#6. Normalcy Bias – Thiên lệch bình thường (hội chứng não đóng băng)
  • Bạn nghĩ là, khi tai ương ập đến, bạn sẽ hoảng sợ và bản năng bỏ-chạy-hay-chiến-đấu sẽ xuất hiện.
  • Thực ra là, bạn thường trở nên bình tĩnh một cách bất thường và vờ rằng mọi thứ đều bình thường trong cơn khủng hoảng.
  • Bất kể bạn gặp điều gì trong cuộc sống, sự phân tích đầu tiên bất kỳ tình huống nào của bạn là để thấy nó trong ngữ cảnh bình thường với bạn và so sánh và đối chiếu thông tin mới này với những gì bạn biết là thường xuyên xảy ra.
  • Vì thế, bạn có xu hướng tường thuật những tình huống lạ và báo động như thể nó chỉ là một phần bình thường hàng ngày.
Rất nhiều hành vi của bạn là để làm giảm sự lo lắng. Thiên lệch bình thường là việc bạn từ chối tin rằng những sự việc khủng khiếp có bao gồm bạn, mặc dù bạn có đầy đủ lý do để tin điều ngược lại.

#7. Introspection – Sự nội quan
  • Bạn nghĩ là, bạn biết lý do cho những gì bạn thích và cảm thấy.
  • Thực ra là, nguồn gốc của một trạng thái cảm xúc nhất định là không có sẵn với bạn, và khi có áp lực phải giải thích chúng, bạn sẽ sáng tác ra điều gì đó.
Bạn thấy một bức tranh là đẹp, một bài thơ là hay, nhưng khi bạn được hỏi tại sao bạn lại thấy như vậy, bạn phải mô tả cảm nhận của mình, lúc đó bạn bắt đầu tạo ra một danh sách những lý do mà thực ra bạn không hề dựa vào nó khi đưa ra cảm nhận của mình.

#8. The Bystander Effect – Hiệu ứng bàng quan
  • Bạn nghĩ là, khi một ai đó có chuyện, tất cả mọi người sẽ vội đến giúp đỡ.
  • Thực ra là, nếu có càng nhiều người chứng kiến một người gặp chuyện, rất ít có khả năng ai đó sẽ đến giúp đỡ.
  • Khả năng hành động có xu hướng bị bão hoà khi ở trong đám đôngPluralistic ignorance – sự vô tri đa nguyên – là tình huống khi tất cả mọi người đều đang nghĩ như nhau, nhưng lại tin rằng họ là người duy nhất nghĩ đến điều đó.
Ví dụ, bạn thấy một trường hợp khẩn cấp, bạn hoảng sợ, nhưng bạn thấy không có ai phản ứng, bạn nghĩ chắc mọi thứ vẫn bình thường, trong khi ai cũng nghĩ như bạn.Biết được điều này, bạn có thể sẽ phải trở thành người hành động đầu tiên, và khả năng rất cao là những người khác sẽ làm theo khi có một người dẫn đầu làm ví dụ cho họ.

#9. Brand Loyalty – Sự trung thành nhãn hiệu
  • Bạn nghĩ là, bạn thích những thứ bạn đang có hơn những thứ bạn không có, vì bạn đã đưa ra những sự lựa chọn dựa trên lý trí khi mua nó.
  • Thực ra là, bạn thích những thứ bạn đang có vì bạn hợp lý hoá sự lựa chọn của bạn trong quá khứ để bảo vệ hình ảnh cá nhân của bạn.
  • The endowment effect – hiệu ứng của sự sở hữu – xuất hiện khi bạn cảm thấy những thứ bạn sở hữu là đặc biệt hơn hẳn những thứ không là của bạn.
  • Sunk cost fallacy – hiệu ứng chi phí chìm – xảy ra khi bạn vẫn tiếp tục làm việc gì đó dù bạn không muốn hay không thích nữa chỉ vì bạn nghĩ đến những gì đã bỏ ra
Ví dụ, bạn ráng ăn hết đồ ăn dù thấy không ngon nữa chỉ vì nghĩ đến số tiền bỏ ra để mua nó, v.v.
  • Choice supportive bias – thiên lệch ủng hộ sự lựa chọn – là khi bạn đưa ra những bằng chứng cho thấy sự lựa chọn của bạn là tốt nhất.
#10. The Argument from Authority – Lời nói dựa trên uy tín
  • Bạn nghĩ là, bạn quan tâm đến tính xác thực của thông tin hơn là người truyền đạt nó.
  • Thực ra là, địa vị và uy tín của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của bạn về những thông tin được truyền đạt bởi cá nhân đó.
Biết được điều này, bạn hoàn toàn nên đặt câu hỏi với tính đúng đắn của thông tin bất kể người nói là ai.

#11. The Ad Hominem Fallacy – Nguỵ biện tấn công cá nhân (ad hominem: to the person)
  • Bạn nghĩ là, nếu bạn không thể tin tưởng ai đó, bạn nên bỏ qua những điều người đó nói.
  • Thực ra là, điều một người nói và tại sao họ lại nói điều đó nên được đánh giá riêng với nhau.
  • Việc xem xét một người có đáng tin hay không với việc người đó có đang nói sự thật hay không là hai việc hoàn toàn khác nhau.
Nguỵ biện này cũng có thể xảy ra ngược, khi bạn tin vào điều ai đó nói chỉ vì bạn thấy họ nói rất hay, rất đáng tin, hay họ làm một công việc rất đáng tôn trọng.#12. The Ultimatum Game – Trò chơi tối hậu thư
  • Bạn nghĩ là, bạn chọn việc chấp nhận hay từ chối một lời đề nghị dựa trên logic của mình.
  • Thực ra là, bạn dựa trên địa vị của mình để quyết định.
  • Bạn dựa trên nhận thức về địa vị của mình trong một nhóm, một cộng đồng để quyết định hoặc đưa ra những lời đề nghị.
Nếu bạn thấy mình thấp kém, bạn sẽ sợ rủi ro, ngược lại, bạn kỳ vọng những điều tốt hơn.  

#13. Subjective Validation – Sự thừa nhận chủ quan
  • Bạn nghĩ là, bạn nghi ngờ những sự chung chung, tổng quát.
  • Thực ra là, bạn rất dễ tin vào những nhận định hoặc dự đoán không rõ ràng là đúng đặc biệt nếu nó tích cực và ám chỉ trực tiếp đến bạn.
  • Bạn có xu hướng tin vào những nhận định nếu chủ ngữ của nó là “bạn”, bạn sẽ nghĩ nó thật đúng, vì bạn sẽ tìm cách để kết nối những thông tin đó với chính bạn.
Bởi vì bản năng của chúng ta là muốn tạo ý nghĩa cho thế giới xung quanh, ta tập trung vào những gì phù hợp và bỏ qua những điều khác.Lần tới nếu bạn đọc phần “cung hoàng đạo”, hãy thử đọc hết ở cả những cung khác bạn, chúng ta đa phần đều giống nhau.

#14. Groupthink – Suy nghĩ nhóm
  • Bạn nghĩ là, những vấn đề sẽ dễ giải quyết hơn nếu có một nhóm cùng thảo luận và đưa ra phương án.
  • Thực ra là, mong muốn đi đến sự thống nhất và tránh xung đột sẽ cản trở điều đó.
  • Các nhóm tồn tại dựa trên việc duy trì sự hoà thuận. Nếu một nhóm bao gồm người có quyền lực, suy nghĩ nhóm sẽ xuất hiện.
Để nhóm có thể ra quyết định tốt hơn, cần cho phép sự bất đồng và thuyết phục mọi người rằng họ tự do được nêu ra ý kiến của mình mà không bị trừng phạt.

#15. Self-serving Bias – Thiên lệch tự bào chữa
  • Bạn nghĩ là, bạn đánh giá bản thân bạn dựa trên những thành công và thất bại trong quá khứ.
  • Thực ra là, bạn viện lý do cho những thất bại và bạn thấy bản thân là thành công hơn, thông minh hơn. Bạn cho rằng những thứ ngu xuẩn bạn đã làm là của “bản thân trước đó”.
  • Thiên lệch này cũng xuất hiện khi bạn so sánh bản thân với người khác.
Bạn luôn cho rằng mình là người giỏi hơn, là đứa con tốt hơn anh chị mình, là một học sinh tốt hơn bạn cùng lứa.
  • Không ai tin rằng họ là một phần của sự trung bình. Đây gọi là illusory superiority effect – hiệu ứng ảo tưởng tự tôn.
Trong việc bạn nhìn nhận bản thân trong mối quan hệ với người khác và trong các tình huống xã hội, bạn chú ý nhiều hơn đến thành công hay thất bại của bạn bè hoặc người thân gần mình hơn là những người lạ, để bạn so sánh và đánh giá bản thân mình.

#16. The Spotlight Effect – Hiệu ứng sân khấu
  • Bạn nghĩ là khi bạn ở trước người khác, bạn cảm thấy như thể mọi người đều chú ý đến từng chi tiết vẻ bề ngoài và hành vi của bạn.
  • Thực ra là người ta rất ít khi chú ý tới bạn trừ khi được gợi ý.
  • Hiệu ứng sân khấu xảy ra với cả những khía cạnh tích cực và tiêu cực, tuy nhiên, chẳng ai mảy may chú ý kể cả bạn đang cố tỏ ra thật ngầu.
Sẽ chẳng ai chú ý nếu bạn lái một chiếc xe mới thật đẹp, mua một đôi giày mới, lúc bạn có mụn trên mặt hay cập nhật trạng thái mới trên Facebook. Bạn không đặc biệt như bạn nghĩ.

#17. Conformity – Sự tuân thủ
  • Bạn nghĩ là bạn là một cá thể độc lập mạnh mẽ và sẽ không tuân thủ nếu như không cần thiết hoặc bị ép buộc.
  • Thực ra là chỉ cần một chút hành động quyền lực hoặc áp lực xã hội để khiến bạn tuân thủ điều gì đó, vì sự tuân thủ là một bản năng tồn tại của con người.
  • Bạn cần biết rằng xu hướng tuân thủ của bạn rất mạnh và thường không ý thức được. Điều này giúp duy trì trật tự xã hội.
  • Và bạn cũng cần biết rằng sự tuân thủ không phải lúc nào cũng dẫn bạn đi đúng nơi.
Hãy đừng ngại đặt câu hỏi, nghi ngờ hay phá vỡ những điều bình thường. Nếu bạn thấy một đám đông đang xếp hàng, đừng vội đứng ngay vào xếp hàng giống họ, hãy đến kiểm tra cửa và xem bên trong là gì.

(Source:http://amindfuljournal.com/ban-khong-that-thong-minh/)

CÁC BÀI VIẾT KHÁC CÙNG CHUYÊN ĐỀ

06 thói quen tạo hiệu suất cao
06 thói quen tạo hiệu suất cao
Tác giả best sellers Brendon Burchard sau hơn 10 năm nghiên cứu, đào tạo và cố vấn về phát triển cá nhân đã giới thiệu cuốn sách “High Performance Habits”” viết về những thói quen không-thể-không-có để trở thành một người làm việc với hiệu suất cao nhất. “High Performance Habits” được xem là bí kíp để các cá nhân không chỉ trở nên xuất sắc hơn, mà còn tìm được sự cân bằng trong cuộc sống, trở nên tự tin và hạnh phúc trọn vẹn.
THE OBSTACLE IS THE WAY - TRỞ NGẠI CHÍNH LÀ CON ĐƯỜNG
THE OBSTACLE IS THE WAY - TRỞ NGẠI CHÍNH LÀ CON ĐƯỜNG
"Chẳng có điều gì là tốt hay xấu, ngoại trừ chính cảm nhận của chính chúng ta. Có một sự việc và câu chuyện mà chính chúng ta kể về nó.”
“THE POWER OF HABIT” - Sức mạnh của thói quen
“THE POWER OF HABIT” - Sức mạnh của thói quen
“Những nhà vô địch, họ không làm những điều khác thường. Họ chỉ làm những việc bình thường. Nhưng họ làm mà không do dự, quá nhanh để những người khác kịp trở tay. Họ thực hành những thói quen đã được học”” - Charles Duhigg